Thứ Tư, 30 tháng 4, 2014

Hát trên chiến hào còn vương mùi bom đạn

@ nguontinviet.com


Nữ văn công Điện Biên Phủ Lê Thị Sáu.


Nữ văn công Điện Biên Phủ Lê Thị Sáu.


82 tuổi, bà Lê Thị Sáu (phường Hưng Dũng, Tp Vinh, Nghệ An) vẫn thong dong đạp xe tới nhà những người bạn để hàn huyên tâm sự. Những lúc vui, bà vẫn ngân nga hát những bài hát ngày xưa - “cái hồi đi văn công Điên Biên” - như bà nói bằng giọng hát cao vút. Lời bài hát có đoạn nhớ, đoạn quên, tên bài hát thì chẳng thể nào nhớ nổi nữa nhưng 1 tháng phục vụ ở chiến trường Điện Biên thì dường như vẫn in đậm trong tâm trí bà.


Từ nhỏ, cô bé Lê Thị Sáu đã nổi tiếng hát hay múa dẻo nhất làng. Những buổi biểu diễn văn nghệ chào mừng lễ kỉ niệm nào đấy không thể vắng tiếng hát trong trẻo, cao vút của Sáu. “Đầu năm 1954, tôi được điều tới hát phục vụ kỉ niệm ngày Lâm - thổ - sản. Dịp đó, đoàn Tuyên truyền Bình - Trị - Thiên trên đường ra Bắc tham dự Đại hội văn nghệ toàn quân lần thứ Nhất. Tôi được tuyển vào đoàn”, bà Sáu nhớ lại.


Đoàn hành quân lên Phú Thọ để tham dự đại hội. Đến Phú Thọ, nhận được chỉ thị của Bác Hồ “Tạm hoãn đại hội. Các cô, các chú lên Điện Biên Phủ phục vụ chiến sỹ”. Lê Thị Sáu nhập vào đoàn văn công Tổng cục chính trị, hành quân lên Điện Biên Phủ khi cuộc chiến đã vào giai đoạn cực kỳ ác liệt.


“Chiến trường ngổn ngang. Súng, pháo nổ vang trời suốt ngày đêm. Chúng tôi chẳng kịp luyện tập các tiết mục mới, cứ mang những bài hát chuẩn bị cho đại hội ra biểu diễn. Buổi biễu diễn đầu tiên là ngay trong hầm thương binh. Căn hầm chật chội, không thể múa được. Bằng tiếng đệm của cây đàn ghita, chúng tôi đã hát. Hát say sưa, hát bằng cả tấm lòng, tình cảm và tình yêu dành cho những người chiến sỹ vừa bị thương trong trận đánh trước đó”, bà Sáu kể tiếp.


Bà Lê Thị Sáu thời trẻ.


Bà Lê Thị Sáu thời trẻ.


Ngoài những lúc biểu diễn, những văn công như Lê Thị Sáu kiêm luôn công việc của người y tá, của người “săn sóc”, chăm lo cho thương binh từng thìa cháo, từng miếng nước, từng viên thuốc. Rồi chính những bàn tay mềm mại ấy khâu từng bộ quân phục rách bươm vì súng đạn để bộ đội có bộ quần áo lành lặn hơn khi ra chiến trường.


Vuốt mái tóc đã bạc trắng gần hết, bà kể tiếp: “Khi cần thiết, văn công chúng tôi cũng tham gia đưa cơm, nước ra tận chiến hào cho bộ đội đánh giặc. Trong cuộc chiến đấu này, chúng tôi không thể tự cho phép mình đứng ngoài. Mỗi người, bằng sức khỏe, bằng khả năng của mình đều muốn đóng góp vào cuộc chiến đấu của cả dân tộc”.


Nhiệm vụ chính của đoàn nói chung và của cô văn công Lê Thị Sáu nói riêng vẫn là biểu diễn văn nghệ cho các chiến sỹ. Và họ đã có những buổi biểu diễn “để đời” của riêng mình. Đó là những đêm biểu diễn ngay trên trận địa, khi tiếng súng đã tạm dứt. Khán giả đứng chung quanh, văn công đứng ở giữa biểu diễn. Đang say sưa hát, địch thả pháo sáng đỏ rực cả trời, cả đoàn lại chạy vào hầm cá nhân để trú. Pháo sáng tắt, lại chạy ra biểu diễn tiếp. Có những đêm, buổi biểu diễn phải gián đoạn 2-3 lần vì pháo sáng của địch.


Văn công biểu diễn văn nghệ cho bộ đội tại Điện Biên (Ảnh tư liệu).


Văn công biểu diễn văn nghệ cho bộ đội tại Điện Biên (Ảnh tư liệu).


“Tôi còn nhớ như in lần biểu diễn ngay trên chiến hào. Hôm ấy, chúng tôi được lệnh biểu diễn văn nghệ cho một đơn vị mới chiến đấu trở về. Các anh ấy còn trẻ lắm, mới mười tám, đôi mươi thôi chứ mấy. Ai cũng bơ phờ, quần áo rách tả tơi, mặt mũi, đầu tóc xạm thuốc súng và lấm lem bùn đất.


Chúng tôi đứng biểu diễn ngay trên bãi đất trống, sân khấu chỉ được căng lên bởi tấm ri đô màu xanh, bằng những tấm vải dù thu được của địch. Chúng tôi hát, say mê và cống hiến. Hát như thể nếu chúng tôi ngừng tiếng hát của mình, những nụ cười sẽ tắt trên những gương mặt non tơ và háo hức kia. Buổi biễu diễn không có ánh sáng chiếu rực rỡ của những dàn đèn, không có những bộ quần áo đẹp đẽ, không có loa đài.


Chúng tôi, mặc những bộ quân phục cũng ám mùi thuốc súng và bụi đất. Mỗi khi kết thúc một bài hát, một bài múa, những tràng pháo tay thay cho những bó hoa. Khuôn mặt của các chiến sỹ dãn ra, cứ như thể họ vừa bước lên từ lấm lem đồng ruộng, cứ như thể ngoài kia không có bọm đan, không có những trận đánh sinh tử.


Có thể một hoặc nhiều trong số các chiến sỹ ấy sẽ hi sinh trong trận đánh tiếp theo và đây là lần cuối cùng họ được xem văn nghệ. Điều đó đã thúc dục chúng tôi cống hiến hết những tài năng, năng khiếu và sức lực của mình trong từng điệu múa, từng bài hát. Kết thúc buổi biểu diễn, họ đi về những căn hầm cá nhân, những lán tre nghỉ ngơi trong phút chốc để chuẩn bị cho những trận đánh tiếp theo”, giọng của người văn công già chùng xuống.


Phút hồi tưởng về những ngày hát trên chiến hào phục vụ chiến sỹ Điện Biên.


Phút hồi tưởng về những ngày hát trên chiến hào phục vụ chiến sỹ Điện Biên.


Sau một tháng biểu diễn phục vụ ở chiến trường Điện Biên Phủ, đoàn được lệnh về Phú Thọ tham gia Đại hội văn nghệ toàn quân. Tại đây, lần đầu tiên trong đời, Lê Thị Sáu được gặp Bác Hồ. Mọi người chạy ra, công kênh Bác lên vai. Bác xua tay và hỏi: “Các cô, các chú trả lời cho Bác, ai có công to nhất trên Điện Biên. Mọi người đồng thanh: “Thưa, là Bác ạ”. Bác lắc đầu cười: “Sai rồi, công lớn nhất là chú Giáp. Các chú lại công kênh đồng chí Giáp đi”.


Rồi Bác bảo mọi người đi chụp ảnh. Các cháu gái được đứng gần Bác hơn, các chú có thắc mắc không? Mấy anh trong đoàn đáp “Có ạ”. Bác bảo: “Các cháu gái là hoa, các cháu trai là cây. Muốn hoa được tươi tốt thì cây phải tưới, phải bảo vệ”. Mọi người vui vẻ cười rồi nhanh chóng xếp hàng chụp ảnh lưu niệm với Bác.


Nheo nheo đôi mắt đã hằn những vết nhăn sâu, bà Lê Thị Sáu cười rồi cất giọng hát. Những câu hát cổ vũ tinh thần chiến đấu, những bài hát dân vận, địch vận đã từng biểu diễn ở Điện Biên năm xưa được cất lên từ chất giọng đã yếu đi nhiều lắm nhưng vẫn ngân vang…


Hoàng Lam







Đăng ký: Bản tin Thời Sự

Nguồn tin

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

“Tiếng nói đầu tiên về sự đổi đời”

@ nguontinviet.com




Thứ Tư, 30/04/2014 - 09:23

Kỷ niệm 39 năm giải phóng miền Nam:



TS Nguyễn Nhã từ trước 1975 đã nổi tiếng là 1 nhà nghiên cứu say mê lịch sử nước nhà. Ông là người sáng lập, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Tập san Sử Địa (Đại học Sư phạm Sài Gòn). Ngay trước ngày giải phóng, ông cũng đã làm số chuyên đề đặc khảo về Hoàng Sa và tổ chức triển lãm tài liệu chứng minh chủ quyền Việt






Đăng ký: Bản tin Thời Sự

Nguồn tin

Chuyện về người lính lê dương mang họ Bác Hồ

@ nguontinviet.com


Trong ký ức của cựu chiến binh Điện Biên Phủ Nguyễn Xuân Tính (phường Trung Đô, Tp Vinh, Nghệ An) vẫn in đậm hình ảnh của một người lính ngoại quốc cao lớn. Họ gặp nhau khi chiến dịch Điện Biên Phủ đang ở giai đoạn ác liệt nhất. Qua sự “sửng sốt” ban đầu về một người lính “mắt xanh, mũi lõ” trong hàng ngũ bộ đội Cụ Hồ là sự ngưỡng mộ, kính phục của người lính Việt Nam. Và họ đã gọi nhau bằng hai từ “đồng chí”.


Stefan Kubiak - đại tá Hồ Chí Toán (Ảnh tư liệu).


Stefan Kubiak - đại tá Hồ Chí Toán (Ảnh tư liệu).


Cựu chiến binh Nguyễn Xuân Tính nhớ lại: “Khi chiến dịch Điện Biên Phủ vào giai đoạn ác liệt nhất, tôi còn nhớ rất rõ, ngày đó, tôi được lệnh theo đồng chí Toàn - thủ trường đơn vị sang đại đội pháo binh. Trên trận địa pháo, tôi quá đỗi ngạc nhiên khi thấy một người nước ngoài cao lớn trong bộ trang phục bộ đội Cụ Hồ. Ông đang say sưa tính toán các phương án, cự ly trên tấm bản đồ tác chiến.


Như đọc được sự ngạc nhiên trong mắt tôi, đồng chí Toàn kể sơ qua về người lính Tây ở trong hàng ngũ của Bộ đội Cụ Hồ. Thì ra, đó là Stefan Kubiak, một người dân Ba Lan, đã từng đứng “bên kia chiến tuyến”.


Sinh ra ở Ba Lan, Stefan Kubiak lớn lên và bị cuốn vào cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Khi kết thúc chiến tranh, ông bị rơi vào tay quân Pháp và bị cưỡng bức vào đội quân lê dương ngoại quốc rồi được đưa tới Việt Nam. Người lính ấy đã được dạy cầm súng bắn vào những người "chống lại sự khai phá văn minh của Pháp quốc".


Thế nhưng, những ngày tháng cầm súng, người lính lê dương này nhận ra rằng mình đang cố gắng tiêu diệt những người đang bảo vệ Tổ quốc của mình trước sự xâm lăng của ngoại bang. Bằng tinh thần dũng cảm, gan dạ và tình yêu đất nước, con người hồn hậu nơi đây, Stefan Kubiak đã rời bỏ hàng ngũ những người lính lê dương để đứng vào hàng ngũ những người chiến đấu vì chính nghĩa.


Cựu chiến binh Nguyễn Xuân Tính hồi tưởng về người đồng chí đặc biệt của mình.


Cựu chiến binh Nguyễn Xuân Tính hồi tưởng về người đồng chí đặc biệt của mình.


Để có thể đứng vào hàng ngũ của người chiến đấu vì lẽ phải, Stefan Kubiak đã thực hiện một cuộc đào ngũ, chạy trốn vào rừng với mục đích trở thành hàng binh của Việt Minh. Không lâu sau đó, ông đã sát cánh cùng với những người lính du kích, luôn ở tuyến đầu trong mỗi trận đánh. Bằng kiến thức quân sự, sự thao lực, mưu trí, lòng dũng cảm, gan dạ và cố gắng của mình, ông được những người lính du kích đặt một cái tên Việt Nam - Toán. Một cái tên nói lên sự tin tưởng, ngưỡng mộ của người lính Việt Minh đối với tài thao lược, tính toán trong từng trận đánh của ông.


Những trận đánh đã đưa ông đứng vào hàng ngũ của vị tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ. “Ở đây, Stefan Kubiak được phân công phụ trách một đơn vị pháo. Với những tính toán chính xác đến từng milimet, ông đã cùng đơn vị lập được nhiều chiến công. Với ngoại hình của một lính Tây, Stefan Kubiak khoác lên mình bộ quân phục sỹ quan Pháp đột nhập vào lô cốt khó đánh nhất của địch, mở đường máu cho những chiến sỹ khác xông lên đánh chiếm lô cốt. Sau những lần đi trinh sát về, Stefan thường dùng mảnh khăn buộc vào đầu để che mái tóc vàng, mang một mảnh vải như khẩu trang để che mặt lại, tránh một số chiến sỹ ta chưa biết mà "tỉa" nhầm”, cựu chiến binh Nguyễn Xuân Tính nhớ lại.


Bộ đội kéo pháo lên trận địa (Ảnh tư liệu).


Bộ đội kéo pháo lên trận địa (Ảnh tư liệu).


Chính dịch Điện Biên Phủ thắng lợi có sự đóng góp không nhỏ của người lính lê dương hàng binh Stefan Kubiak. Sau chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận Stefan Kubiak làm con nuôi và cho phép ông được mang họ của Người. Cái tên rất Việt Nam - Hồ Chí Toán gắn với ông từ đó.


“Cuộc gặp ở trận địa mở đầu cho một tình bạn giữa tôi và Stefan. Tôi hứa sẽ dạy ông ấy tiếng Việt. Ngược lại, Stefan sẽ dạy tôi Toán học và tiếng Pháp. Cuộc chiến ngày càng ác liệt nên chúng tôi không có nhiều điều kiện để gặp nhau. Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, Stefan phục vụ một thời gian nữa trong quân đội rồi chuyển công tác sang Tòa soạn báo Quân đội nhân dân và Đài tiếng nói Việt Nam. Tôi chuyển công tác về Quân khu 4. Chúng tôi giữ liên lạc với nhau thêm một thời gian nữa. Do công việc cũng như cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước ác liệt nên liên lạc giữa chúng tôi gián đoạn sau đó thì mất liên lạc luôn”, ông Tính ngậm ngùi.


Trong ký ức của người lính đã đi qua 2 cuộc chiến tranh Nguyễn Xuân Tính, hình ảnh một người lính lê dương bằng chiến công, lòng quả cảm, tình yêu và tinh thần chiến đấu quên mình cho một đất nước xa lạ - một đất nước mà ông đã xem như là quê hương thứ 2 của mình - luôn mang dáng dấp đẹp đẽ, huyền diệu. Với ông, Stefan Kubiak - Hồ Chí Toán đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu chuộng hòa bình, khát khao cống hiến và chiến đấu vì chính nghĩa, vì độc lập của một dân tộc yêu chuộng hòa bình.


Hoàng Lam







Đăng ký: Bản tin Thời Sự

Nguồn tin

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

Người làm dép lốp hiếm hoi của Hà Nội

@ nguontinviet.com


Người làm dép lốp hiếm hoi của Hà Nội

Ông Phạm Quang Xuân nay đã 73 tuổi. Ông là cựu công nhân lành nghề của Xí nghiệp Trường Sơn thuộc Công ty bách hóa Hà Nội chuyên sản xuất dép cao su từ trước 1975.


Người làm dép lốp hiếm hoi của Hà Nội

Những năm 80 của thế kỷ trước, dép cao su dần bị thất thế khi mốt dép nhựa trở nên phổ biến. Ông Xuân một thời gian đã chuyển sang làm đế giày và bỏ nghề làm dép lốp.


Người làm dép lốp hiếm hoi của Hà Nội

Mọi việc bắt đầu trở lại khi ông về hưu, "ngứa nghề" tự làm những đôi dép lốp cổ lỗ sĩ cho mình và gia đình sử dụng. Những sản phẩm này nhanh chóng được hâm mộ bởi những khách hàng hoài cổ và ưa thích sự đơn giản.


Người làm dép lốp hiếm hoi của Hà Nội

Những đế dép được tạo ra theo đúng cỡ tiêu chuẩn để khách hàng lựa chọn. Các loại lốp được tận dụng từ những hãng tên nổi tiếng trên thế giới (Goodyear, Dunlop...) và có cả dép được tạo ra từ lốp máy bay.


Người làm dép lốp hiếm hoi của Hà Nội

Bộ đồ nghề ông phải "thửa" riêng với nhiều hình dáng giống như đồ nghề thợ mộc. Kết hợp với sự khéo léo, những chiếc lốp hỏng đã biến thành những đôi dép "hàng hiệu" tiện dụng.


Người làm dép lốp hiếm hoi của Hà Nội

Cùng làm với ông Xuân còn có người cháu phụ giúp. Các sản phẩm ông làm ra đều bán tốt mà không cần phải quảng cáo, phục vụ khách quen, nó cũng đúng với tinh thần làm vì thích của ông.


Người làm dép lốp hiếm hoi của Hà Nội

Các đôi dép cao su kiểu dáng cũ được bán giá 200 nghìn đồng, kích thước tùy thích có rất nhiều thanh niên đến mua.


Dù năm nay đã 73 tuổi, ông Xuân vẫn đi bơi sông Hồng sau mỗi ngày làm việc.

Dù năm nay đã 73 tuổi, ông Xuân vẫn đi bơi sông Hồng sau mỗi ngày làm việc.


Dù năm nay đã 73 tuổi, ông Xuân vẫn đi bơi sông Hồng sau mỗi ngày làm việc.

Đây là đôi dép hình dáng giống với đôi dép cao su Bác Hồ sử dụng, chỉ khác một điểm không có quai hậu. Ông cũng khá bất ngờ khi đôi dép lốp cổ lỗ được nhiều người hâm mộ. Khách hàng của ông mỗi lần mua dép thường nói rằng thích vì nó đơn giản, rửa được nước, xọc vào cái ăn ngay.


Dù năm nay đã 73 tuổi, ông Xuân vẫn đi bơi sông Hồng sau mỗi ngày làm việc.

Cùng với các loại đồ nghề "thửa" bằng thép tốt, ông cũng có rất nhiều loại đá mài để làm sắc lại các loại dao cắt sao su.


Bên cạnh những mẫu dép cũ, ông cũng chế thêm nhiều kiểu với mẫu mã mới và tiện dụng cho người dùng.

Bên cạnh những mẫu dép cũ, ông cũng chế thêm nhiều kiểu với mẫu mã mới và tiện dụng cho người dùng.


Bên cạnh những mẫu dép cũ, ông cũng chế thêm nhiều kiểu với mẫu mã mới và tiện dụng cho người dùng.

Dép sao su của ông so với dép đang bán ngoài thị trường khác nhau không chỉ ở cách sản xuất, chất liệu... mà đôi dép ông làm ra còn khiến người ta yêu thích vì những hình ảnh đẹp gắn liền với nó một thời.





Đăng ký: Bản tin Thời Sự

Nguồn tin

Nguồn Tin Cập Nhật

Đời Sống & Sức Khỏe

Phổ Biến